aqua.com.vn – Thư viện sách PFD Miễn Phí lớn nhất Việt Nam xin giới thiệu – Cuốn sách DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép được viết bởi tác giả James Dewey Watson, bàn về chủ đề Khoa học kỹ thuật. Hãy cùng aqua.com.vn đọc hết quyển sách này bằng cách tải file PDF free nhé!.

Quyển sách DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép được nhà xuất bản Nhà Xuất Bản Dân Trí phát hành
2019 .

Bạn đang xem: DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép PDF

Thông tin về sách

Tác giả James Dewey Watson
Nhà xuất bản Nhà Xuất Bản Dân Trí
Ngày xuất bản 2019
Số trang
Loại bìa Bìa Mềm
Trọng lượng 300 gram
Người dịch Cao Hồng Chiến, Trần Thị Bảo Trâm, Nguyễn Ngọc Kim Vy

[Tải Sách PDF] DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép PDF

Tải sách DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép PDF ngay tại đây

[Download Ebook] DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép

Hình ảnh bìa sách DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép

image

image

image

Đang cập nhật…

Nội dung sách DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép

Đây là tự truyện của James Watson – người đồng khám phá ra cấu trúc xoắn kép của DNA

Nếu bạn tò mò về khám phá được coi là vĩ đại nhất thế kỷ 20 được phát hiện như thế nào, nếu bạn tò mò về trung tâm học thuật của thế giới những năm 1940-50, một trong những nơi giành nhiều giải Nobel Sinh Y học nhất, đây chắc chắn là cuốn sách dành cho bạn.

“Được xuất bản vào năm 2012 để đánh dấu 50 năm kể từ khi giải Nobel được trao cho Watson và Crick về công trình khám phá cấu trúc DNA, một ấn bản với chú thích và minh họa của cuốn sách kinh điển này mang đến những hiểu biết mới về mối quan hệ cá nhân giữa James Watson, Frances Crick, Maurice Wilkins, Rosalind Franklin. Những câu chuyện liên quan được người trong cuộc thuật lại đầy chi tiết, giúp khắc họa chân dung các nhà khoa học cũng như đời sống, suy tư hay cảm xúc của họ trong quá trình làm việc nghiên cứu.

Cấu trúc của DNA là một cuộc đua ngầm bắt đầu từ thời điểm Oswald Avery và cộng sự ở Đại Học Rockefeller, New York, làm thí nghiệm chứng minh DNA mang thông tin di truyền (trước đó người ta tin là protein mới là chất quyết định di truyền). Cuộc đua tìm kiếm ‘mật mã của sự sống’ còn ảnh hưởng cả đến thế giới khoa học nói chung, nhất là từ thời nhà vật lý vĩ đại người Áo Erwin Schrödinger. Có ít nhất 3 nhóm lúc đó dồn tâm sức vào cuộc đua này.

Nhóm thứ nhất ở King’s College (London) với điểm tựa chính là kỹ thuật X-ray crystallography, tuy nhiên không phải ai cũng có khả năng làm ra những bức ảnh X-ray chất lượng và ngay cả khi có những hình ảnh tuyệt đẹp (như của Rosalind Franklin và Maurice Wilkins) thì không phải ai cũng giải thích và mô hình hoá được nó.

Nhóm thứ hai là Linus Pauling ở Caltech là người đầu tiên nhận ra cấu trúc xoắn (helical) ở protein (giải Nobel hoá học năm 1958), và có lẽ ông đã phát hiện ra cấu trúc này ở DNA nếu ông không lỡ chuyến tàu qua Anh, lỡ luôn dịp chứng kiến bức ảnh X-ray của Wilkins và Franklin. Pauling công bố cấu trúc của DNA 2 tháng trước Watson và Crick, nhưng cấu trúc đó là sai (ông cho rằng nó là triple helix).

Nhóm cuối cùng và là những người chiến thắng là nhà khoa học thiên tài người Anh Francis Crick (người được coi là cha đẻ của ngành sinh học phân tử hiện đại) và một trong những người có ảnh hưởng nhưng cũng đầy mâu thuẫn, tác giả cuốn sách, nhà khoa học người Mỹ James Watson. Một trong những điểm đáng chú ý là Watson và Crick không hề có dự án về cấu trúc DNA, họ đơn giản là tò mò và quyết tâm theo đuổi nó bằng mọi giá. Erwin Chargaff là người phát hiện ra tỷ lệ của các nucleic acid trong DNA luôn cân bằng giữa Adenine và Thymine, Guanine và Cytosine. Sau khi chứng kiến seminar về phát hiện này vào năm 1952, Watson và Crick nghĩ ngay đến mô hình pairing trong cấu trúc DNA (A-T, G-C), một trong những điểm chính thúc đẩy họ xây dựng cấu trúc xoắn kép. Bức ảnh X-ray của Franklin là bức ảnh đơn giản nhưng có chất lượng nhất về cấu trúc tinh thể của DNA, nó chỉ ra rõ ràng cấu trúc xoắn (helical) ở DNA. Vì nhiều lý do mà Franklin và Wilkins đã không mô hình hóa được DNA dù họ là những người đầu tiên nhìn thấy bức ảnh X-ray này. Như vậy, Watson và Crick đã có hai bằng chứng quan trọng về cấu trúc DNA, đó là cơ chế ghép cặp (pairing) giữa A-T và C-G và cấu trúc xoắn của hai trục tinh thể. Tuy nhiên, họ chỉ hoàn chỉnh nó sau khi Jerry Donohue chỉ cho họ hydrogen chính là cầu nối A-T và C-G.

Cấu trúc xoắn kép của DNA được khám phá chính thức vào năm 1953, công trình thắng giải Nobel chín năm sau đó (1962) và ảnh hưởng của nó là vô tận. Ví dụ như nó chỉ ra cơ chế sao chép của tế bào của Watson và Crick dự đoán (và được chứng minh hoàn toàn sau đó), giải thích sự sống, tạo ra ngành sinh học phân tử và công nghệ sinh học như hiện nay.”

Theo TS Đinh Quang Huy

Tác giả James Dewey Watson (1928)

– Là nhà sinh vật học phân tử Mỹ. Vào năm 25 tuổi, ông đã nổi tiếng với công trình khám phá ra cấu trúc DNA. Watson, Francis Crick và Maurice Wilkins đã được trao giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1962 cho “sự khám phá của họ liên quan đến cấu trúc phân tử của nucleic acids và tầm quan trọng của nó cho việc trao chuyển thông tin trong vật chất sống”.

– 1956-1976: Watson trở thành thành viên giảng dạy tại các phòng thí nghiệm của Đại học Harvard.

– 1968: ông làm giám đốc phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor tại Long Island, New York và chuyển trọng tâm nghiên cứu của trung tâm này sang nghiên cứu ung thư.

– 1994: ông đã giữ chức chủ tịch của trung tâm này 10 năm và sau đó trở thành hiệu trưởng của nó cho đến năm 2007.

– 1988-2002: Watson làm việc với Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, đóng góp cho việc xây dựng đề án liên quan đến di truyền của con người.

– Ông cũng đã viết rất nhiều sách khoa học, trong đó có The Molecular Biology of the Gene (1965),The Double Helix (1968).

ĐÁNH GIÁ/NHẬN XÉT CHUYÊN GIA

“Cuốn sách mô tả các sự kiện dẫn đến một trong những khám phá sinh học vĩ đại của thời đại chúng ta.” – Robert K. Merton

“Một thành công to lớn… một tác phẩm kinh điển.” – Peter B. Medewar

“Không ai có thể bỏ lỡ sự phấn khích trong câu chuyện về khám phá vĩ đại và đẹp đẽ này… Cuốn sách truyền tải tinh thần khoa học… ý nghĩa về tương lai, tinh thần cao, sự cạnh tranh và dự đoán đúng sai, sự bao trùm của trí tưởng tượng và thử nghiệm thực tế.” – Jacob Bronowski

“Lịch sử về một nỗ lực khoa học, một câu chuyện trinh thám thực sự khiến người đọc nghẹt thở từ đầu đến cuối.” – Andre Lwoff

“Ông đã mô tả một cách đáng ngưỡng mộ cảm giác đáng sợ và đẹp đẽ khi tiến hành một khám phá khoa học.” – Richard Feynman

TRÍCH ĐOẠN ĐỌC THỬ

Tôi chưa từng thấy Francis Crick thể hiện vẻ khiêm nhường. Có thể anh ấy điềm đạm với ai khác, nhưng tôi chẳng có lý do nào để phán xét cả. Chuyện đó không liên quan đến sự nổi tiếng của anh lúc ấy. Anh đã được nhắc đến nhiều, thường là với một sự kính trọng, rằngcó thể một ngày nào đó anh sẽ được xếp vào hàng ngũ với Rutherford hay Bohr. Nhưng sự tình vẫn chưa phải như vậy vào khoảng mùa thu năm 1951 khi tôi đến làm việc ở Phòng thí nghiệm Cavendish thuộc Đại học Cambridge, cùng một nhóm nhỏ các nhà vật lý học và hóa học nghiên cứu về cấu trúc không gian ba chiều của protein. Vào thời điểm đó, anh đã 35 tuổi vàhầu như chưa có tiếng tăm gì. Mặc dù một vài đồng nghiệp thân thiết đã nhận ra tư duy nhanh nhẹn và sắc sảo của anh nên thường tìm đến anh để hỏi ý kiến, nhưng họ lại thường không trân trọng đúng mức mà còn cho rằng anh hay nói luyên thuyên. 

Chủ nhiệm đơn vị nghiên cứu của Francis lúc ấy là ông Max Perutz, một nhà hóa học gốc Áo đã đến Anh vào năm 1936. Vào thời điểm đó ông đã thu thập nhiều dữ liệu nhiễu xạ qua tia X từ các tinh thể hemoglobin được hơn 10 năm và chỉ mới bắt đầu tìm thấy vài kết quả. Người giúp đỡ ông là Ngài Lawrence Bragg, giám đốc phòng thí nghiệm Cavendish. Suốt gần bốn mươi năm, ông Bragg, một người đoạt giải Nobel và là một trong những người đặt nền móng cho ngành tinh thể học, đã luôn dõi theo nhiễu xạ tia X như một phương pháp giúp xác định cấu trúc ngày càng phức tạp hơn của các phân tử.* Khi cấu trúc phân tử càng phức tạp được tìm ra nhờ phương pháp mới thì ông lại càng phấn khởi. Vì thế mà trong những năm ngay sau chiến tranh ông đặc biệt say mê với việc giải cấu trúc protein, vốn là loại phân tử phức tạp nhất. Bình thường, khi xong việc hành chính, ông Bragg hay ghé qua văn phòng của Perutz để thảo luận về những dữ liệu tia X vừa thu được. Sau đó ông tiếp tục tìm cách lí giải chúng sau khi về nhà.

Crick là điểm giao thoa giữa – nhà lý thuyết Bragg và – nhà thực nghiệm Perutz; anh thi thoảng cũng làm thí nghiệm nhưng thường say sưa với lý thuyết giải mã cấu trúc protein hơn. Mỗi khi tìm ra điều mới mẻ, anh thường sẽ trở nên cực kì phấn khích và lập tức kể cho bất kì ai chịu nghe về những điều này. Mộthai ngày sau đó anh thường nhận thấy lý thuyết của mình chưa ổn và thế là quay sang thí nghiệm cho đến khi chán thì phát kiến mới cho lý thuyết lại nảy sinh.

Có nhiều tình huống bi hài liên quan đến những chuyện này. Mà cũng nhờ vậy nên không khí phòng thí nghiệm, nơi mà những quy trình thường kéo dài từ vài tháng cho đến vài năm, trở nên sôi động hơn. Điều này một phần do âm lượng giọng nói của Crick: anh nói lớn và nhanh hơn bất kì ai và khi anh phá lên cười thì ai cũng biết anh đang ở đâu trongviện Cavendish. Gần như ai cũng thích thú với những khoảnh khắc rộn ràng này, đặc biệt là khi chúng tôi có thời gian chăm chú lắng nghe và ngắt lời ngay khi không còn theo kịp chuỗi suy luận của anh nữa. Nhưng có một ngoại lệ đáng nhắc tới. Những cuộc chuyện trò với Crick thường lại làm Ngài Lawrence Bragg khó chịu, và giọng nói của anh thôi cũng đủ để làm Bragg phải tìm một nơi khác, yên tĩnh hơn. Chỉ thỉnh thoảng ông mới tới uống trà ở Cavendish, vì điều đó có nghĩa là ông phải chịu đựng việc cả phòng trà như vỡ bung do giọng nói của Crick. Nhưng ngay cả khi đã làm vậy, Bragg vẫn chưa hoàn toàn được yên thân. Đã hai lần hành lang bên ngoài văn phòng của ông bị ngập khi nước túa ra từ phòng thí nghiệm mà Crick đang làm việc. Francis, vì mải say sưa với lí thuyết, đã lơ là việc siết chặt ống cao su quanh cái máy bơm hút của mình.

Vào thời điểm tôi mới đến, các lí thuyết của Francis đã vượt xa những giới hạn của lĩnh vực tinh thể học protein. Bất cứ điều gì quan trọng cũng lôi cuốn anh, và anh thường đi đến nhiều phòng khác nhau để xem những thí nghiệm mới nào vừa được thực hiện. Mặc dù thường rất nhã nhặn và ân cần đối với các đồng nghiệp khi họ không hiểu rõ ý nghĩa thật sự của những thí nghiệm mới, nhưnganh cũng không bao giờ ngần ngại nói thẳng với họ điều đó. Gần như ngay lập tức, anh sẽ đề xuất một loạt những thí nghiệm mới để chứng minh cho lập luận của mình. Ngoài ra, anh cũng không ngừng thao thao bất tuyệt với những ai chịu lắng nghe rằng các ý tưởng sáng suốt mới của mình có thể sẽ thúc đẩy khoa học phát triển như thế nào.

Từ những lí do đó, người ta thực sự sợ Crick dù không nói ra, đặc biệt là những người cùng thời với anh cũng đang tìm danh tiếng. Cái cách anh nhanh chóng nắm bắt dữ liệu và giản lược chúng thành những mô hình chặt chẽ thường làm cho họchột dạ. Họ sợ rằng, trong tương lai sớm thôi, anh ấy sẽ thành công, và sẽ chỉ ra cho cả thế giới thấy những cái đầu mờ nhạt, vốn được che dấu sau những lối hùng biện kiểu cách của Đại học Cambridge.

Mặc dù Crick được hưởng quyền có một bữa ăn mỗi tuần tại trường Caius (một trường thành viên danh giá của Đại Học Cambridge – ND), anh vẫn chưa vào biên chế của bất kì trường nào. Một phần là do chủ ý của anh. Anh rõ ràng không muốn chịu gánh nặng không đáng có từ việc giảng dạy sinh viên đại học. Phần khác cũng vì tiếng cười của Crick, không chừng nó sẽ làm mấy học giả đáng kính nổi khùng nếu phải nghe thấy quá một lần mỗi tuần. Tôi chắc rằng việc không vào biên chế đôi khi cũng làm Francis buồn phiền, dù cho bản thân anh cũng thấy rõ rằng cuộc sống của giới khoa bảng vốn bị chi phối bởi các vị trung niên quá mô phạm nhưng thực chất lại không có khả năng đem lại cho anh niềm yêu thích khoa học hay chỉ dạy cho anh bất cứ điều gì đáng giá. Duy chỉ có trường King, một ngôi trường giàu mạnh và phóng khoáng mới tiếp nhận anh mà không làm mất đi tính cách của cả đôi bên. Những ai thân thiết đều biết anh là một người bạn vui vẻ khi cùng nhau dùng bữa tối. Nhưng dù có cố gắng thế nào, họ không thể che giấu được sự thật là nếu vô tình đưa ra một bình luận sai về rượu sherry (rượu Tây Ban Nha) thì hẳn sẽ bị Francis mắng cho một trận.

Xem Thêm Thông Tin DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép ở đâu

Bạn có thể mua sách DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép tại đây với giá

170.000 đ
(Cập nhật ngày 22/11/2022 )

Tìm kiếm liên quan

DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép PDF

DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép MOBI

DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép James Dewey Watson ebook

DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép EPUB

DNA – Hành Trình Khám Phá Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép full

Tìm hiểu thêm
Khoa học công nghệ
James Dewey Watson
Nhà Xuất Bản Dân San

2019

bìa mềm

300

Cao Hongjian, Tran Thi Bao Tram, Nguyen Ngoc Kim Vy

nó là tCâu chuyện về James Watson – Người đồng phát hiện ra xoắn kép DNA

Nếu bạn tò mò về cách những khám phá vĩ đại nhất của thế kỷ 20 được thực hiện, nếu bạn tò mò về trung tâm học thuật của thế giới trong những năm 1940 và 1950, một trong nhiều người đoạt giải Nobel Sinh học. Chắc chắn là cuốn sách phù hợp với bạn.

Được xuất bản vào năm 2012 để kỷ niệm 50 năm Watson và Crick đoạt giải Nobel vì đã khám phá ra cấu trúc của DNA, ấn bản có chú thích và minh họa cổ điển này tập hợp sự đồng cảm giữa James Watson, Francis Crick và Morris. Cái nhìn sâu sắc mới về mối quan hệ cá nhân Wilkins , Rosalind Franklin. Những câu chuyện liên quan được những người trong ngành trình bày chi tiết và giúp miêu tả các nhà khoa học và cách họ sống, suy nghĩ hoặc cảm nhận trong công việc nghiên cứu của mình.

Cấu trúc của DNA là một cuộc chạy đua ngầm bắt đầu khi Oswald Avery và các đồng nghiệp của ông tại Đại học Rockefeller ở New York chứng minh bằng thực nghiệm rằng DNA mang thông tin di truyền (trước đây được cho là protein). di truyền). Cuộc chạy đua tìm kiếm “mật mã của sự sống” cũng đã ảnh hưởng đến toàn bộ cộng đồng khoa học, đặc biệt là kể từ thời của nhà vật lý vĩ đại người Áo Erwin Schrödinger. Ít nhất 3 nhóm đã tập trung vào trò chơi vào thời điểm đó.

Nhóm thứ nhất là trường King’s College (London), với trọng tâm chính là tinh thể học tia X, nhưng không phải ai cũng tạo ra hình ảnh tia X chất lượng cao, ngay cả với những bức ảnh đẹp. (như của Rosalind Franklin và Maurice Wilkins) không phải ai cũng có thể diễn giải và mô hình hóa.

Nhóm thứ hai, Linus Pauling ở Caltech, là những người đầu tiên phát hiện ra cấu trúc xoắn trong protein (Giải Nobel Hóa học 1958), và nếu ông không bắt được chuyến tàu, ông có thể đã tìm thấy cấu trúc này trong DNA. Khi tôi đến Anh, tôi đã lỡ xem phim chụp X-quang của Wilkins và Franklin. Pauling đã công bố cấu trúc của DNA hai tháng trước Watson và Crick, nhưng cấu trúc đã sai (ông cho rằng đó là một chuỗi xoắn ba).

Nhóm cuối cùng và chiến thắng là nhà khoa học thiên tài người Anh Francis Crick (ông được coi là cha đẻ của sinh học phân tử hiện đại) và một trong những người có ảnh hưởng nhất nhưng cũng đầy mâu thuẫn, tác giả của cuốn sách, nhà khoa học người Mỹ James Watson. Điều đáng chú ý là Watson và Crick không có dự án nào về cấu trúc DNA, họ chỉ tò mò và quyết tâm theo đuổi nó bằng mọi giá. Erwin Chargaff phát hiện ra rằng tỷ lệ axit nucleic trong DNA luôn cân bằng giữa adenine và thymine, guanine và cytosine. Sau khi chứng kiến ​​một hội thảo về khám phá này vào năm 1952, Watson và Crick đã nghĩ ngay đến mô hình ghép đôi trong cấu trúc DNA (AT, GC), đây là một trong những ý tưởng chính thúc đẩy họ xây dựng chuỗi xoắn kép. Hình ảnh tia X của Franklin là hình ảnh đơn giản nhất nhưng chất lượng nhất về cấu trúc tinh thể DNA, cho thấy rõ cấu trúc xoắn của DNA. Vì nhiều lý do khác nhau, Franklin và Wilkins đã thất bại trong việc lập mô hình DNA, mặc dù họ là những người đầu tiên nhìn thấy hình ảnh tia X này. Do đó, Watson và Crick có hai bằng chứng quan trọng cho cấu trúc của DNA, đó là cơ chế bắt cặp AT và CG và cấu trúc xoắn của hai trục tinh thể. Tuy nhiên, họ chỉ hoàn thành nó sau khi Jerry Donohue cho họ xem hydro làm cầu nối giữa AT và CG.

Cấu trúc chuỗi xoắn kép của DNA được chính thức phát hiện vào năm 1953, và công trình này đã được trao giải Nobel 9 năm sau đó (1962), và tác động của nó là vô tận. Ví dụ, nó chỉ ra rằng cơ chế sao chép tế bào của Watson và Crick đã tiên đoán (và sau đó đã được chứng minh đầy đủ) giải thích sự sống, tạo ra sinh học phân tử và công nghệ sinh học. “

Theo TS Đinh Quang Huy

của James Dewey Watson (1928)

– Nhà sinh học phân tử người Mỹ. Đến năm 25 tuổi, anh đã được biết đến với việc khám phá ra cấu trúc của DNA. Watson, Francis Crick và Maurice Wilkins đã được trao giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 1962 “vì đã phát hiện ra cấu trúc phân tử của axit nucleic và tầm quan trọng của chúng đối với việc truyền thông tin trong vật chất sống”.

1956-1976: Watson trở thành giảng viên tại phòng thí nghiệm Harvard.

Năm 1968: Ông trở thành giám đốc Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor ở Long Island, New York, và chuyển trọng tâm nghiên cứu của trung tâm sang nghiên cứu ung thư.

– Năm 1994: Ông là chủ tịch trung tâm trong 10 năm và sau đó là giám đốc trung tâm đến năm 2007.

– 1988-2002: Watson làm việc với Viện Y tế Quốc gia để đóng góp vào việc phát triển các chương trình liên quan đến di truyền học ở người.

– Ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách khoa học, bao gồm Sinh học phân tử của gen (1965), Double Helix (1968).

Đánh giá / Đánh giá của chuyên gia

“Cuốn sách này mô tả các sự kiện dẫn đến một trong những khám phá sinh học vĩ đại nhất của thời đại chúng ta.” -Robert K. Merton

“Một thành công lớn … một tác phẩm kinh điển.” – Peter B. Medeva

“Không ai có thể bỏ lỡ sự phấn khích trong câu chuyện về khám phá tuyệt vời và tuyệt đẹp này … Cuốn sách này truyền tải tinh thần của khoa học … tương lai, tiếp thêm sinh lực, cạnh tranh và dự đoán đúng sai, bao trùm trí tưởng tượng và thử nghiệm.” – Jacob Bronowski

“Một lịch sử của những nỗ lực khoa học, một câu chuyện trinh thám thực sự khiến người đọc phải nín thở từ đầu đến cuối.” – Andrei Love

“Anh ấy mô tả một cách đáng ngưỡng mộ cảm giác khủng khiếp và tuyệt vời khi thực hiện những khám phá khoa học.” – Richard Feynman

Đọc thử đoạn trích

Tôi chưa bao giờ thấy Francis Crick thể hiện sự khiêm tốn. Có thể anh ấy rất tuyệt với người khác, nhưng tôi không có lý do gì để đánh giá. Nó không liên quan gì đến sự nổi tiếng của anh ấy vào thời điểm đó. Anh ta được nhắc đến nhiều lần, thường với sự tôn kính, rằng một ngày nào đó anh ta có thể trở thành đồng minh với Rutherford hoặc Bohr. Nhưng đó không phải là trường hợp vào mùa thu năm 1951, khi tôi đến làm việc tại Phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge, nơi tôi đang làm việc với một nhóm nhỏ các nhà vật lý và hóa học để nghiên cứu cấu trúc ba chiều của protein. Vào thời điểm đó, anh ấy đã 35 tuổi và ít được biết đến. Mặc dù một số đồng nghiệp thân thiết đã nhận ra suy nghĩ nhanh nhạy của anh ấy và thường tìm đến anh ấy để xin lời khuyên, nhưng họ thường không đánh giá đúng mức anh ấy và cho rằng anh ấy đang nói những điều vô nghĩa.

Francis đứng đầu là ông Max Perutz, một nhà hóa học người Áo, đến Anh năm 1936, khi ông thu thập dữ liệu nhiễu xạ tia X trên nhiều tinh thể hemoglobin. Hơn 10 năm và chỉ bắt đầu tìm thấy một số kết quả. Trợ lý của ông là Sir Lawrence Bragg, giám đốc Phòng thí nghiệm Cavendish. Trong gần bốn thập kỷ, người đoạt giải Nobel và một trong những người sáng lập ra tinh thể học, ông Bragg, đã sử dụng nhiễu xạ tia X như một phương pháp giúp xác định các cấu trúc phân tử ngày càng phức tạp. phương pháp, hắn càng ngày càng hưng phấn. Chính vì lý do này mà trong những năm sau chiến tranh, ông đặc biệt bị cuốn hút bởi sự giải cấu trúc của protein, những phân tử phức tạp nhất. Thông thường, khi hoàn thành công việc hành chính, ông Bragg ghé qua văn phòng của Perutz để thảo luận về dữ liệu X-quang mà ông vừa thu được. Sau khi trở về nhà, anh tiếp tục nghĩ cách giải thích.

Crick là người giao thoa giữa nhà lý thuyết Bragg và nhà thực nghiệm Perutz; ông cũng thỉnh thoảng làm các thí nghiệm, nhưng nhiệt tình hơn trong việc giải mã lý thuyết về cấu trúc protein. Bất cứ khi nào anh ấy phát hiện ra điều gì đó mới, anh ấy sẽ cực kỳ phấn khích và ngay lập tức nói với bất kỳ ai sẽ nghe nó. Sau một hoặc hai ngày, ông thường nhận ra rằng lý thuyết của mình không tốt, vì vậy ông đã chuyển sang làm thí nghiệm cho đến khi ông cảm thấy nhàm chán với những khám phá mới của lý thuyết.

Có rất nhiều tình huống hài hước liên quan đến những điều này. Nhờ đó, không khí trong phòng thí nghiệm trở nên sinh động hơn, và quá trình hoạt động của phòng thí nghiệm thường kéo dài từ vài tháng đến vài năm. Điều này một phần là do giọng nói lớn của Crick: anh ấy nói to hơn và nhanh hơn bất cứ ai, và khi anh ấy cười, mọi người đều biết anh ấy đang ở đâu tại Đại học Cavendish. Hầu như mọi người đều yêu thích những khoảnh khắc thú vị này, đặc biệt là khi chúng tôi có thời gian chăm chú lắng nghe và ngắt lời ngay lập tức khi chúng tôi không thể theo kịp suy luận của anh ấy. Nhưng có một ngoại lệ đáng nói. Cuộc trò chuyện với Crick thường khiến Sir Lawrence Bragg khó chịu, và chỉ riêng giọng nói của ông cũng đủ để Bragg tìm một nơi khác yên tĩnh hơn. Anh ta chỉ thỉnh thoảng đến Cavendish uống trà, vì điều đó có nghĩa là anh ta phải chịu đựng tiếng Crick tràn ngập phòng trà. Nhưng ngay cả như vậy, Praha không hoàn toàn yên bình. Hành lang bên ngoài văn phòng của Crick ngập gấp đôi nước đổ từ phòng thí nghiệm nơi Crick làm việc. Francis mải mê lý thuyết đến nỗi anh đã sơ ý thắt chặt ống cao su xung quanh máy bơm hút.

Khi tôi đến, lý thuyết của Francis đã vượt xa lĩnh vực tinh thể học protein. Bất cứ điều gì quan trọng đều thu hút anh ta, và anh ta thường đến các phòng khác nhau để xem những thí nghiệm mới nào vừa được tiến hành. Mặc dù anh ấy nhìn chung lịch sự và ân cần khi đồng nghiệp không hiểu ý nghĩa thực sự của một thử nghiệm mới, nhưng anh ấy không bao giờ ngần ngại nói trực tiếp với họ. Gần như ngay lập tức, ông đã đưa ra một loạt các thí nghiệm mới để chứng minh luận điểm của mình. Hơn nữa, anh ấy không bao giờ ngừng nói chuyện với những người sẵn sàng lắng nghe những ý tưởng mới tuyệt vời của anh ấy đang thúc đẩy khoa học như thế nào.

Vì những lý do này, mọi người thực sự sợ Crick, ngay cả khi không nói ra, đặc biệt là trong số những người cùng thời với ông, những người cũng đang tìm kiếm sự nổi tiếng. Cách anh ấy nhanh chóng nắm bắt dữ liệu và giảm nó thành một mô hình mạch lạc thường gây ngạc nhiên. Họ lo sợ rằng trong một tương lai không xa anh ấy sẽ thành công và cho cả thế giới thấy bộ óc mờ mịt ẩn sau những bài hùng biện hoa mỹ của Đại học Cambridge.

Mặc dù Crick được hưởng một bữa ăn mỗi tuần tại Case College (một thành viên nổi bật của Đại học Cambridge – ND), nhưng anh ta vẫn chưa tham gia bất kỳ trường học nào. Một phần là ý định của anh ta. Rõ ràng là anh ấy không muốn gánh thêm gánh nặng quá đáng trong việc dạy dỗ sinh viên đại học. Một phần khác là vì tiếng cười của Crick, nếu nó phải được nghe nhiều hơn một lần một tuần, có thể khiến một số học giả đáng kính phát điên. Tôi chắc chắn rằng việc không có biên chế đôi khi khiến Francis lo lắng, mặc dù anh ấy tự nhận thấy rõ ràng rằng cuộc sống học tập do tuổi trung niên thống trị là quá sai lầm để thực sự mang lại cho bạn tình yêu khoa học hoặc dạy cho bạn bất cứ điều gì có giá trị. Chỉ có Trường học của Vua, một trường học giàu có và tự do, chấp nhận anh ta mà không làm mất đi tính cá nhân của cả hai bên. Những người thân thiết với anh ấy đều biết rằng anh ấy là một người bạn vui vẻ khi dùng bữa tối. Nhưng dù cố gắng đến đâu, họ cũng không thể giấu được sự thật rằng họ sẽ bị Francis mắng mỏ nếu chẳng may nhận xét sai về Sherry.


image
image
image

đề nghị đặc biệt
170,000 vnđ

2019

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *